D.S. Likhachev- Thư gửi Tạp chí Thế giới mới, Số 2 năm 1993

Bản dịch dưới đây của Ếch Xanh đã đăng trên báo Văn Nghệ khoảng 7-8 năm trước, nay đăng lại đây nhân có tranh luận xung quanh bài trả lời phỏng vấn của GS Ngô Bảo Châu trên Tuổi Trẻ.

Vài nét về tác giả

Dmitri Sergeievich Likhachev (1906-1999) là nhà văn hoá nổi tiếng của Liên Xô cũ và LB Nga; nhà nghiên cứu văn học, nhà hoạt động xã hội, Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô từ năm 1970, Viện Hàn lâm khoa học Nga từ năm 1991. Anh hùng lao động XHCN năm 1986; Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1952, 1969; Giải thưởng Nhà nước LB Nga năm 1993; Chủ tịch Quỹ Văn hoá Liên Xô năm 1986-1991; Chủ tịch Quỹ Văn hoá quốc tế của Nga năm 1991-1993. Các công trình nghiên cứu chính: Về “Trường ca đoàn quân Igor”; Thi pháp văn học Nga cổ, Những ghi chép về Nga, Từ quá khứ đến tương lai…

likhachevBối cảnh hiện nay buộc tôi phải viết thư gửi Toà soạn để thêm một lần bàn về vị trí, vai trò và ý nghĩa của giới trí thức đối với xã hội. Đây không phải là bài viết. Đây chính là một bức thư, vì tác giả của nó bày tỏ một cách khá lộn xộn những ý nghĩ về hiện trạng hôm nay, những gì mà kinh nghiệm sống buộc ông ta phải nói ra.

Vậy thì thế nào là trí thức? Tôi nhìn nhận và hiểu về trí thức ra sao? Đây là một khái niệm thuần tuý Nga và nội hàm của nó chủ yếu mang tính chất duy cảm. Hơn nữa, do những đặc điểm lịch sử trong quá khứ, người Nga chúng ta thường dành ưu ái cho cảm xúc hơn là các khái niệm lô gic.

Solzhenhisyn đã hoàn toàn đúng khi nói, trí thức- đó không chỉ là một con người có học, càng không phải là dạng người mà ông gọi là “kẻ có học”[1]. Ông đã hơi nặng lời, song khi dùng từ này, Solzenhisyn muốn nói đến hạng người có học thức nhưng èo uột về tinh thần, sẵn sàng bán linh hồn mình.

Trí thức- đó là đại diện cho một nghề liên quan đến lao động trí óc (kỹ sư, bác sỹ, nhà văn, nhà giáo, nhà bác học…), và đó là một con người đứng đắn về mặt trí tuệ. Riêng tôi thấy phật lòng khi nghe cụm từ phổ biến hiện nay “trí thức sáng tạo”[2] – cứ như là một bộ phận trí thức khác không sáng tạo vậy. Tất cả trí thức đều sáng tạo với mức độ khác nhau. Mặt khác, nếu một người viết lách, giảng dạy, sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật theo “đơn đặt hàng” thì đó không phải là trí thức nữa, mà là một người làm thuê.

Theo kinh nghiệm đường đời của tôi, trí thức là những người tự do về thế giới quan, không bị phụ thuộc vào những sức ép về kinh tế, đảng phái, nhà nước, không chịu một bổn phận nào về tư tưởng.

Nguyên tắc chính của tính trí thức- sự tự do về trí tuệ, sự tự do như một phạm trù đạo đức. Người trí thức chỉ không còn tự do trước lòng tự trọng và ý nghĩ của chính mình. Tôi cũng nghiệm ra rằng, có những người mất tự do suốt đời trước những nguyên tắc đã chấp nhận, bảo vệ những ý nghĩ đã được họ thể hiện, thậm chí thực hiện trong cuộc sống, bất chấp những ý nghĩ đó đúng hay sai, và chúng đã bó buộc tự do của họ.

Đúng ra, con người phải được có quyền thay đổi chính kiến của mình do những nguyên nhân về đạo đức. Nếu anh ta thay đổi chính kiến chỉ để trục lợi thì đó là điểm tận cùng của sự vô đạo đức. Nhưng nếu một người trí thức sau hồi suy ngẫm cảm thấy mình không đúng, đặc biệt trong những chuyện liên quan đến đạo đức, đã thay đổi chính kiến thì điều đó không hề hạ thấp phẩm giá anh ta.

Vấn đề về những nền tảng đạo đức của trí thức quan trọng đến nỗi tôi vẫn muốn nói thêm về nó. Trước hết tôi muốn nói rằng một nhà bác học chưa chắc đã phải là trí thức. Họ không còn là trí thức khi quá chú mục vào chuyên môn của mình mà quên mất ai sử dụng thành quả lao động của mình và sử dụng như thế nào. Khi đó, do theo đuổi những lợi ích chuyên môn, họ đã coi nhẹ lợi ích đồng loại và những giá trị văn hoá. Ví dụ đơn giản nhất là khi người lao động trí óc phục vụ cho chiến tranh hoặc tiến hành những thử nghiệm nguy hiểm cho con người hoặc gây đau đớn cho động vật.

Quan tâm đến chuyên môn và đào sâu chuyên môn là một quy tắc sống hoàn toàn không tồi chút nào. Nhất là ở nước Nga, nơi có quá nhiều những người ngoại đạo dám nhận những việc không thuộc chuyên môn của họ. Điều này không chỉ đúng với khoa học, mà còn đối với nghệ thuật và chính trị- những lĩnh vực cũng đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao độ. Tôi rất coi trọng những người chuyên nghiệp và tính chuyên nghiệp, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng trùng hợp với những gì tôi gọi là trí thức và tính trí thức. Tôi còn nói thế này: trí thức ở Nga- đó là sự độc lập của ý nghĩ cộng với học vấn châu Âu (tại sao lại là học vấn châu Âu, tôi xin nói sau). Và đó là sự độc lập đối với mọi hình thức hạn chế nó- dù là tính chất đảng phái, những tính toán về kinh tế hay đường công danh và thậm chí là lợi ích chuyên môn nếu nó vượt quá mức cho phép.

Nói chung, trí thức Nga đã đứng vững trước những thử thách của thời đại, và nghĩa vụ của tôi như một nhân chứng của thế kỷ là lập lại thái độ công bằng đối với họ. Lòng quả cảm của trí thức Nga qua bao thập kỷ vẫn kiên trinh với niềm tin của mình làm tôi kinh ngạc và từ ấy đến nay vẫn còn kính phục. Xin ngả mũ trước trí thức Nga lớp trước, những người đã ra đi. Có thể dẫn ra đây hàng trăm, hàng ngàn tên tuổi các nhà khoa học, nghệ sỹ, nhạc sỹ giữ vững sự độc lập về tinh thần và thậm chí phản kháng lại sự áp đặt trong các ngành lịch sử, văn học, sinh học, triết học, ngôn ngữ học…Thế nhưng, bên cạnh đó lại có một lũ những kẻ “dở trí thức”, những kẻ “dở học” đã nấp trong bóng tối tổ chức những đợt vu oan, giá họa, tố cáo, giành giật các danh hiệu khoa học, danh hiệu viện sỹ. Tôi dám khẳng định rằng chúng không phải là trí thức. Vì những kẻ dở học như thế mà biết bao trí thức chân chính đã bị ném ra đường!

Vậy thì ai là người trí thức đầu tiên ở Nga?

Nếu Vladimir Monomakh không viết “Huấn ca” chỉ dành cho riêng các công tước, thì với lòng tự trọng và 5 ngoại ngữ của mình, có thể coi ông là trí thức Nga đầu tiên. Nhưng xử sự của ông không phải lúc nào cũng theo những quy tắc đạo lý muôn đời, mà đôi khi tuân theo ý muốn của các bậc vương hầu. Trí thức đầu tiên ở nước Nga xuất hiện vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16- đó là Maxim Grek, một người học ở ý và Hy Lạp về. Ông bị truy đuổi ở nước Nga, bị cầm tù và chỉ sau khi mất mới được liệt vào những bậc khả kính. Vào thế kỷ 17 ở nước Nga cũng chưa có trí thức thực sự mà chỉ có những người có học vấn theo các chuẩn mực châu Âu.

Dưới thời Pie Đại đế cũng không tồn tại giới trí thức. Để hình thành nên trí thức, cần có sự kết hợp giữa kiến thức đại học tổng hợp với một tư duy tự do và cách xử sự tự do về thế giới quan. Pie e ngại sự ra đời của những con người độc lập. Dường như ông cảm nhận được mối nguy hiểm tiềm ẩn trong họ đối với Nhà nước, ông né tránh những cuộc gặp gỡ với các nhà tư tưởng Tây Âu. Trong các chuyến đi châu Âu, ông quan tâm trước hết đến “những nhà chuyên môn”- các nhà hoạt động nhà nước, các tướng lĩnh, các nhà xây dựng, công nghiệp và dân lao động như thợ đóng tàu, thợ mộc. Có nghĩa là những người thực hiện tư tưởng, chứ không phải là những người sinh ra tư tưởng. Pie cảm thấy mình thoải mái với những người hoạt động thực tiễn hơn là với các nhà lý luận và tư tưởng.

Những trí thức thực sự, điển hình kiểu Nga xuất hiện vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19- đó là Sumarkov, Novikov, Radishev, Karamzin. Thậm chí Derzhavin cũng không được như thế vì ông quá phụ thuộc vào chính quyền. Không phải bàn cãi gì nữa, Pushkin là trí thức. Ông không phụ thuộc vào một ai trên con đường sáng tạo, đi theo con đường của mình, “sống một mình”.

Trí thức Nga lên tiếng về mình như một liên minh tinh thần trên quảng trường Petrov, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa tháng Chạp khởi đầu cho sự xuất hiện số lượng lớn những người tự do về tinh thần. Những người tháng Chạp chống lại các lợi ích giai cấp của chính họ và các lợi ích nghề nghiệp, trong đó có các lợi ích nhà binh, còn “liên minh bí mật” của họ cũng không ràng buộc họ về mặt tư tưởng.

Nói chung, trí thức Nga chân chính không làm hoen ố mình bởi sự phản bội niềm tin. Tôi có thể kể ra rất nhiều những cái tên đã sống cuộc đời mình một cách trung thực theo nguyên tắc của trí thức: biết, hiểu, phản kháng, giữ độc lập về tinh thần và không tham gia vào sự lừa dối. Tính cách của trí thức Nga là ghê tởm sự áp đặt độc tài.

Vậy thì trí thức Nga là hiện tượng phương Đông hay phương Tây? Câu trả lời nằm ở chỗ, chúng ta thừa nhận nước Nga là Phương Đông hay Phương Tây? Liên quan đến chuyện Đông – Tây, tôi muốn nói rằng, một trong những yếu tố chính của tính trí thức là tính chất của học vấn, mà đối với trí thức Nga, học vấn luôn thuần tuý mang chất phương Tây.

Do đó, nếu nước Nga là Phương Đông, hoặc thậm chí có là một vùng trộn lẫn á- Âu đi chăng nữa, thì tính chất phương Tây của học vấn vẫn sẽ giúp người ta dễ dàng tách rời trí thức khỏi dân chúng, một phần nào biện minh cho thái độ tiêu cực đối với trí thức của tầng lớp thống trị dở trí thức, dở học ở Nga. Phải chăng vì thế, vì muốn tách rời trí thức khỏi dân chúng nên những năm gần đây tư tưởng về á- Âu đã được hiểu biến tướng, lệch lạc đi?

Nhưng trên thực tế, nước Nga không hề là một vùng á-Âu nào cả (càng không phải là Phương Đông- ND). Nếu nhìn vào nước Nga từ hướng Tây thì dĩ nhiên nó nằm giữa Đông và Tây. Nhưng đó hoàn toàn thuần tuý là góc nhìn địa lý, thậm chí tôi có thể gọi nó là góc nhìn “bản đồ”. Đông khác Tây do nền văn hoá, chứ đâu phải là do một đường biên nào đó trên bản đồ. Không nghi ngờ gì nữa, nước Nga là châu Âu về tôn giáo và văn hoá. Còn ngay trong nước Nga, không có khác biệt đáng kể về văn hoá giữa thành Peterburg ở đàng Tây và Vladivostok ở đàng Đông.

Về văn hoá, mức độ khác biệt giữa nước Nga với các nước phương Tây cũng không hơn gì sự khác biệt giữa các nước này với nhau, ví dụ như giữa Anh và Pháp, giữa Hà Lan và Thuỵ Sỹ. Tất nhiên, trí thức là môi trường nối nước Nga với phương Tây, mặc dù không chỉ mình trí thức làm được điều đó.

Đối với nước Nga, chiều văn hoá Đông- Tây đóng vai trò bé hơn chiều Bắc – Nam. Dường như không ai chú ý đến điều này, nhưng sự thực là như vậy. Thử nhìn vào bản đồ châu Âu mà xem. Những con đường giao lưu chính trong suốt một thời gian dài là những con sông chủ yếu chảy theo chiều dọc- từ Bắc xuống Nam hoặc từ Nam lên Bắc. Đây là những tuyến đường buôn bán chính, cũng là tuyến đường quân sự và phổ biến văn hoá ở nước Nga cổ. Nước Nga cổ có hai trung tâm trên con đường đó là Kiev và Novgorod. Từ phương Bắc, những người thuộc bộ tộc Riuriki xuống phương Nam đến Kiev và định cư ở đó như một lực lượng làm chỗ dựa cho Nhà nước, còn từ phương Nam- từ Bizantin, qua Bungary ngày nay, văn hoá tăng lữ, Thiên chúa giáo đã vào nước Nga và thắt chặt quan hệ giữa nước Nga cổ và Tây Âu. Nếu định nghĩa văn hoá Nga cổ như một nơi liên kết các nền văn hoá chính thì phải gọi đó là trục Bắc Âu-Bizantin chứ không phải là trục á-Âu. Các bộ tộc du mục từ phương Đông và từ các thảo nguyên phía Nam nước Nga cổ hầu như không đóng góp gì vào việc hình thành nên Nhà nước này, thậm chí cả khi họ đã định cư lâu dài trong các công quốc Nga với tư cách quân đánh thuê.

Một hiện tượng rất điển hình là tất cả những cốt truyện phương Đông trong văn học Nga cổ đều đến từ hướng Nam hoặc hướng Tây. Những mối liên hệ về văn hoá với phương Đông rất có giới hạn, và chỉ từ thế kỷ 16 mới xuất hiện các mô típ phương Đông trong cách trang trí hoa văn của Nga.

Nguồn gốc văn hoá của Nga khác với của Phương Đông như thế, nhưng điều này không phủ nhận, mà ngược lại càng cho thấy sự cần thiết phải tìm hiểu và giúp đỡ lẫn nhau. Chính trên bình diện này, chứ không phải trên bình diện nào khác, cần phải hiểu về tư tưởng á-Âu. Mỗi một nước có phương Tây và phương Đông, phương Bắc và phương Nam của mình, cái này đối với một nước là phương Đông, nhưng đối với nước láng giềng lại là phương Tây. Sự tồn tại hoà bình bên nhau như thế chính là nhằm để các đường biên về sắc tộc không trở thành đường biên về chính trị “được chốt chặt”, để sự đa dạng không làm tổn hại ai mà chỉ làm giàu nền văn hoá mà thôi.

Trong thời đại chúng ta, trên nước Nga này, có những lúc trí thức của một dân tộc này tìm cách huỷ hoại trí thức dân tộc khác. Cũng trong thời đại chúng ta, trí thức phải chịu cười nhạo và huỷ diệt từ chính bộ phận khác của trí thức. Nếu thế thì “bộ phận khác” kia đã không xứng đáng tự nhận vào mình danh nghĩa trí thức.

Sự tranh luận, những cách nhìn khác nhau về thế giới và tương lai của nó dĩ nhiên là đặc thù cho trí thức, nhưng sự huỷ diệt lẫn nhau thì thật xa lạ với trí thức. Không có lẽ trí thức giải quyết những sứ mệnh lịch sử, gánh lấy gánh nặng của mình chỉ bằng mỗi cách thông qua những cuộc trấn áp lẫn nhau vô tận và sự hằn thù lẫn nhau vượt ra khỏi khuôn khổ của tính trí thức? Trong khi đó, toàn bộ lịch sử văn hoá cũng như kinh nghiệm hoàn toàn mới đây của chúng ta mách bảo có những con đường hoàn toàn khác.

Và không có lẽ chúng ta vẫn coi nhẹ trí thức và vai trò của trí thức trong đời sống của các dân tộc trên đất nước chúng ta?

Nguyễn Đức Lam dịch từ nguyên bản tiếng Nga


[1] Solzhenhisyn chơi chữ: “kẻ có học”, theo cách gọi của nhà văn, trong tiếng Nga là “obrazovanets”, nghe cùng âm với “samozvanets”- kẻ mạo danh, “oborvanets”- kẻ rách rưới (ND)

[2] Trong tiếng Nga phổ thông, cụm từ “trí thức sáng tạo” chỉ giới văn nghệ sỹ (ND).